* Mua hoặc thuê tên miền sanphamnhua.nemcaosunon.net, vui lòng liên hệ 0908 744 256 - 0917 212 969 (Mr. Thanh)


Nhựa bao bì: Đây là dòng sản phẩm có giá trị gia tăng thấp nhưng lại chiếm tới 39% giá trị sản



Phân loại theo ứng dụng:

Nhựa thông dụng: Là loại nhựa được sử dụng số lượng lớn, giá rẻ. Được dùng nhiều trong Quy trình sản xuất nhựa như: PP, PE(HDPE), PS, PVC, PET, ABS,...
Nhựa kỹ thuật: Là loại nhựa có chất cơ lý trội hơn so với các loại nhựa thông dụng. Thường dùng trong các mặt hàng công nghiệp, như: PC, PA,.....

Nhựa chuyên dụng: Là các loại nhựa tổng hợp chỉ sử dụng riêng biệt cho từng trường hợp.

4. ỨNG DỤNG của nhựa.

Nhựa là vật liệu cực kỳ linh hoạt và lý tưởng cho một loạt các ứng dụng trong đời sống và công nghiệp. Nhựa được sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực, bao gồm sản xuất bao bì, xây dựng và xây dựng, dệt may, sản phẩm tiêu dùng, giao thông vận tải, điện và điện tử và máy móc công nghiệp.

Hàng không vũ trụ

Việc vận chuyển người và hàng hóa an toàn và hiệu quả về mặt chi phí là rất quan trọng đối với nền kinh tế của chúng ta, việc cắt giảm trọng lượng của ô tô, máy bay, tàu thuyền và tàu hỏa có thể cắt giảm đáng kể mức tiêu thụ nhiên liệu. Do đó, độ nhẹ của nhựa khiến chúng trở nên vô giá đối với ngành vận tải.
Vật liệu xây dựng

Nhựa xây dựng được sử dụng ngày càng nhiều trong các ứng dụng trong ngành xây dựng. Chúng có tính linh hoạt cao và kết hợp tỷ lệ sức mạnh trên trọng lượng tuyệt vời, độ bền, hiệu quả chi phí, bảo trì thấp và chống ăn mòn làm cho nhựa trở thành một lựa chọn hấp dẫn về mặt kinh tế trong lĩnh vực xây dựng.

Sản phẩm tiêu biểu có thể kể đến đó chính là các tấm bạt che chắn công trình, lưới an toàn, lưới chắn bụi, ...

Các ứng dụng điện và điện tử

Điện năng cung cấp hầu hết mọi khía cạnh của cuộc sống của chúng ta, ở nhà và trong công việc, tại nơi làm việc và khi vui chơi. Và ở mọi nơi chúng ta tìm thấy điện, chúng ta cũng tìm thấy chất dẻo.
Bao bì nhựa

Nhựa là vật liệu hoàn hảo để sử dụng trong đóng gói hàng hóa. Nhựa rất linh hoạt, bền, nhẹ, linh hoạt và có độ bền cao.

Nó chiếm lượng nhựa sử dụng lớn nhất trên toàn thế giới và được sử dụng trong nhiều ứng dụng đóng gói bao gồm hộp đựng, chai lọ, thùng phuy, khay, hộp, cốc và bao bì bán hàng tự động, sản phẩm trẻ em và bao bì bảo vệ.

Sản xuất năng lượng

Tua bin gió, tấm pin mặt trời và bùng nổ sóng
Đồ nội thất

Bộ đồ giường, vải bọc và đồ nội thất gia đình, ống nước nhựa, ống nhựa PVC, ... Tiêu biểu có Ống nhựa Tiền Phong là 1 nhà cung cấp ống nhựa chất lượng cao cả trong và ngoài nước.
Ngành y tế

Ống tiêm y tế và chăm sóc sức khỏe , túi bood, tubins, máy lọc máu, van tim, chân tay giả và băng vết thương

Mũ bảo hiểm quân sự , áo giáp, xe tăng, tàu chiến, máy bay và thiết bị thông tin liên lạc, ...


Do các đặc tính hấp dẫn này, nhựa ngày càng được sử dụng phổ biến trong nhiều ứng dụng như:

Nhựa Tiền Phong ghi nhận doanh thu đạt 4.819 tỷ đồng, tăng 7,4%, lợi nhuận sau thuế đạt 465,3 tỷ đồng, tăng 4% so với năm 2020.

Công ty Cổ phần Nhựa thiếu niên Tiền Phong (Mã chứng khoán: NTP) vừa công bố Báo cáo tài chính quý IV và 2021 với các chỉ tiêu kinh doanh khả quan.

Cụ thể, trong quý IV/2021, công ty này ghi nhận doanh thu thuần đạt hơn 1.460 tỷ đồng, tăng 26% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, giá vốn bán hàng tăng mạnh lên hơn 1.191 tỷ đồng, tương ứng 44,3% so với cùng kỳ năm trước nên lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ giảm 24% xuống còn 271 tỷ đồng.

Trong quý, chi phí tài chính tăng nhẹ lên gần 23 tỷ đồng, tương ứng 11%, chi phí quản lý doanh nghiệp đạt 39,3 tỷ đồng, tương ứng tăng hơn 30% so với quý IV/2020. Tuy nhiên, chi phí bán hàng giảm xuống còn 113 tỷ đồng, giảm 54,8% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung, lợi nhuận trước thuế của Nhựa Tiền Phong đạt 138 tỷ đồng, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế còn 117,6 tỷ đồng, tăng 12,5 tỷ đồng so với quý IV/2020.

Lũy kế cả năm 2021, Nhựa Tiền Phong ghi nhận doanh thu đạt 4.819 tỷ đồng, tăng 7,4% so với năm trước đó, lợi nhuận sau thuế đạt 465,3 tỷ đồng, tăng 4% so với năm 2020.

Năm vừa qua, Nhựa thiếu niên Tiền Phong có hơn 26 tỷ đồng lãi tiền gửi, tiền cho vay, trong khi năm 2020 chỉ có hơn 1,1 tỷ đồng. Ngoài ra, công ty này nhận 5,8 tỷ đồng cổ tức từ loạt công ty, gồm: Công ty Cổ phần Bao bì Tiền Phong, Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Hà Giang, Công ty Cổ phần cấp nước Thủ Dầu Một và Công ty TNHH MTV Kinh doanh nước sạch Sài Gòn. Trong đó, khoản lớn nhất từ CTCP Kinh doanh nước sạch Sài Gòn với hơn 3 tỷ đồng.

Tổng tài sản của Nhựa Tiền Phong tính đến hết năm 2021 đạt hơn 4.898 tỷ đồng, tăng gần 26% tương đương gần 1.000 tỷ đồng so với hồi đầu năm. Trong đó, tài sản ngắn hạn tăng 62%, lên 2.721 tỷ đồng với khoản lớn nhất là hơn 1.081 tỷ đồng hàng tồn kho, tăng hơn 400 tỷ đồng so với hồi đầu năm.

Hầu hết các hạng mục của hàng tồn kho đều tăng so với hồi đầu kỳ. Tương ứng, nợ vay công ty cũng tăng 68% so với thời điểm đầu năm lên mức hơn 2.192 tỷ đồng, trong đó, nợ vay ngắn hạn tăng hơn 75% lên 1.594 tỷ đồng và vay nợ dài hạn giảm 53% xuống còn 16,7 tỷ đồng.

Cuối tháng 10, Bộ Tài chính đã có văn bản gửi Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) đề nghị triển khai thoái vốn năm 2021 theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, trong đó tập trung triển khai thoái vốn tại Công ty Cổ phần Nhựa Thiếu niên Tiền Phong trước ngày 20/12/2021. Tuy nhiên, do vấn đề chậm trễ về định giá do dịch Covid-19, SCIC vẫn chưa thoái vốn khỏi Nhựa Tiền Phong.

Tại buổi họp báo hồi đầu năm, ông Đinh Việt Tùng - Phó Tổng Giám đốc SCIC cho biết công tác định giá Nhựa Tiền Phong đã xong và trong thời gian tới sẽ triển khai đấu giá.

Dù có sự phát triển mạnh trong những năm gần đây nhưng ngành Nhựa Việt Nam chủ yếu vẫn chỉ được biết đến như là một ngành kinh tế kỹ thuật về gia công chất dẻo, trong khi đó lại không chủ động được hoàn toàn nguồn nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất.

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, ngành công nghiệp Nhựa dù còn non trẻ so với các ngành công nghiệp lâu đời khác như cơ khí, điện - điện tử, hoá chất, dệt may… nhưng đã có sự phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Ngành Nhựa giai đoạn 2010 – 2020, là một trong những ngành công nghiệp có tăng trưởng cao nhất Việt Nam với mức tăng hàng năm từ 16% – 18% (chỉ sau ngành viễn thông và dệt may), có những mặt hàng tốc độ tăng trưởng đạt gần 100%/năm.

Với tốc độ phát triển nhanh, ngành Nhựa đang được coi là một ngành năng động trong nền kinh tế Việt Nam. Sự tăng trưởng đó xuất phát từ thị trường rộng, tiềm năng lớn và đặc biệt là vì ngành nhựa Việt Nam mới chỉ ở bước đầu của sự phát triển so với thế giới và sản phẩm nhựa được sử dụng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống bao gồm sản phẩm bao bì nhựa.

Sản phẩm nhựa vật liệu xây dựng, sản phẩm nhựa gia dụng và sản phẩm nhựa kỹ thuật cao.

Hiện nay, các sản phẩm nhựa của Việt Nam đang có mặt tại gần 160 nước. Thị trường xuất khẩu truyền thống của các công ty nhựa Việt Nam là Nhật Bản, Mỹ, một số nước thuộc khu vực Châu Âu (Đức, Hà Lan…) và ASEAN (Campuchia, Indonesia, Philippine…). Gần đây, Hàn Quốc đã trở thành một thị trường xuất khẩu lớn mới của các nhà xuất khẩu nhựa Việt Nam.

Thói quen ưa chuộng sử dụng sản phẩm nhựa trong cuộc sống thường ngày của người Việt, đặc biệt là các loại bao bì nhựa, nên, nhu cầu sử dụng nhựa của Việt Nam tương đối cao.

Với mức tăng trưởng kinh tế ổn định (ở mức cao so với mặt bằng chung thế giới), đặc biệt nhu cầu ngành xây dựng, hạ tầng, tiêu dùng cũng như thu nhập bình quân đầu người gia tăng (cùng với đó là sự gia tăng của tầng lớp trung lưu khiến nhu cầu mua sắm gia tăng) sẽ là động lực chính cho đầu ra ngành công nghiệp nhựa trong nước.




Đặc biệt, RCEP sẽ giúp các công ty Việt Nam mở rộng phạm vi khu vực nguồn nguyên liệu được đảm bảo yêu cầu quy tắc xuất xứ (nếu nguồn nguyên liệu sản xuất của các công ty Việt Nam được nhập từ 1 trong 16 nước như Australia, Newzealand, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, các nước khu vực Đông Nam Á… đều đáp ứng quy tắc xuất xứ) để được hưởng ưu đãi giảm thuế xuất khẩu còn từ 0%-5%.

Hiện nay, các sản phẩm nhựa Việt Nam được chia làm 4 nhóm chính, gồm nhựa bao bì, nhựa gia dụng, nhựa vật liệu xây dựng và nhựa kỹ thuật.

Ngành hàng tiêu dùng trong nước tăng trưởng tốt nhờ nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của dân cư gia tăng là yếu tố then chốt giúp ngành nhựa bao bì đảm bảo đầu ra vững chắc. Bao bì nhựa là một ngành giao nhau giữa hai ngành Nhựa và Bao bì. Ngành bao bì nhựa có thể được phân loại thành: Bao bì mềm, phục vụ chủ yếu cho ngành thực phẩm; Chai lọ nhựa đóng hộp phục vụ chủ yếu cho lĩnh vực nước giải khát; Bao bì cứng.

Theo báo cáo của Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), Bao bì nhựa chiếm 460 trên tổng số 2.000 công ty nhựa trên toàn quốc, 66% giá trị xuất khẩu nhựa hàng năm của Việt Nam là nhựa bao bì.

Nhựa bao bì cũng là mặt hàng nhựa xuất khẩu chủ yếu của ngành nhựa Việt Nam, các thị trường chính bao gồm Mỹ, Nhật Bản, EU, tuy có nhiều lợi thế về chi phí sản xuất thấp nhưng thị trường xuất khẩu túi, bao bì nhựa đang gặp một số khó khăn tuy nhiên chúng tôi đánh giá những trở ngại đó không quá ảnh hưởng tới các doanh nghiệp nhựa bao bì trong nước.

Cụ thể: EU đã thông qua quy định về hạn chế sử dụng túi nhựa và xu hướng chuyển sang dùng các loại túi, bao bì tự phân hủy. Tuy nhiên hàng nhựa bao bì Việt Nam xuất sang châu Âu thường phải đáp ứng những yêu cầu chất lượng cao, chủ yếu là bao bì cao cấp và bao bì tự hủy, nên quy định này sẽ không quá ảnh hưởng tới việc xuất khẩu của bao bì Việt Nam.

Bên cạnh đó, Mỹ vẫn tiếp tục kéo dài việc áp thuế chống trợ cấp và thuế chống bán phá giá đối với các sản phẩm túi, bao bì nhựa PE nhập khẩu từ Việt Nam (cùng với Việt Nam là các nước Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Đài Loan và Thái Lan cũng chịu các mức thuế phạt thêm 5 năm nữa).

Mỹ đã bắt đầu chương trình hạn chế này từ năm 2010 và tiếp tục gia hạn sau thời kỳ 5 năm lần đầu tiên kết thúc.
Chúng tôi đánh giá việc Mỹ tiếp tục duy trì áp thuế như trên sẽ không tác động đột biến đối với xuất khẩu nhựa của Việt Nam do việc này đã diễn ra trong suốt 5 năm qua.

Nhựa vật liệu xây dựng: Chiếm 14% giá trị sản xuất, bao gồm các sản phẩm như ống nước, khung cửa chính, cửa sổ. Nhờ thị trường bất động sản đang hồi phục và các hoạt động xây dựng dân dụng, hạ tầng gia tăng với nhiều dự án có quy mô lớn và vốn đầu tư cao, đặc biệt là các dự án về xây dựng nhà xưởng và cơ sở hạ tầng phục vụ công nghiệp, hạ tầng giao thông, nâng cấp đường bộ… nên thị trường tiêu thụ VLXD được kỳ vọng sẽ được mở rộng mạnh mẽ với tiềm năng cao.

Các yếu tố thúc đẩy phân khúc nhựa VLXD phát triển như: Thị trường bất động sản và các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn phục hồi; Kích thước cồng kềnh của các sản phẩm nhựa VLXD khiến vận chuyển khó khan do đó sản phẩm nhập ngoại kém cạnh tranh; Thị hiếu tiêu dùng đặc trưng là những lợi thế giúp các công ty sản xuất nhựa VLXD không chịu nhiều cạnh tranh từ các công ty nước ngoài;





Thuật ngữ ''plastic'' có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp ''plastikos'', có nghĩa là phù hợp để đúc. Điều này đề cập đến tính linh hoạt của vật liệu hoặc độ dẻo trong quá trình sản xuất. Nhựa cho phép đúc, ép hoặc nén thành nhiều hình dạng khác nhau. Từ dạng màng mỏng cho đến dạng sợi, tấm, ống, chai, hộp… và nhiều hơn nữa.

Hầu hết các loại nhựa đều có chứa các polyme hữu cơ. Các thành phần của nhựa giống như gỗ, giấy hoặc len, các nguyên liệu thô… Để sản xuất nhựa là các sản phẩm tự nhiên như: Cellulose, than đá, khí tự nhiên, muối và dĩ nhiên là dầu thô.

Nhựa đã và đang trở thành loại nguyên vật liệu hiện đại. Được sử dụng rộng rãi để thay thế các nguồn nguyên vật liệu từ vải, gỗ, da, kim loại, thủy tinh… Bởi đặc tính của nhựa là có độ bền cao, nhẹm khó vỡ và nhiều màu sắc đẹp.

Hơn 50% các chất dẻo chất hữu cơ, hợp chất vô cơ khác (chất phụ gia từ 0% đối với các polymer)… Đều được ứng dụng trong ngành điện tử. Ngày nay người ta thường trộn thêm các chất phụ gia khi sản xuất. Nhằm làm cải tiến hiệu suất (làm tăng độ dai, độ cứng, độ mềm, độ dẻo).

Hoặc làm giảm chi phí sản xuất (độn các vật liệu rẻ tiền để làm cho sản phẩm rẻ hơn trên một đơn vị trọng lượng) ra.

Người ta còn độn thêm các chất chống cháy để làm giảm tính cháy của vật liệu. Các chất độn thường là các loại khoáng như đá phấn. Trong đó phẩm màu là các chất phụ gia phổ biến nhất. Mặc dù trọng lượng của chúng chiếm tỉ lệ nhỏ (phẩm màu có dạng gạt,dạng phấn,dạng lỏng.)

Hạt nhựa là cơ sở chính của tất cả các loại nhựa. Tuy nhiên, thông qua các quá trình khác nhau, các loại nhựa này có thể được biến đổi để phù hợp với các nhu cầu cụ thể. Đầu tiên, nhựa được tạo ra bằng nhiệt làm nứt các hydrocacbon; đây được gọi là quá trình bẻ khóa.

Các phân tử lớn hơn của nhựa được chia thành các hydrocacbon khác nhau như ethylene và propylene. Nhiệt độ được sử dụng trong quá trình "Bẻ Khóa" này chịu trách nhiệm phần lớn đối với số lượng và loại hydrocacbon.

Sau khi quá trình này kết thúc, các hợp chất khác nhau được tạo ra sẽ được tạo thành một chuỗi. Chuỗi này được biết đến như một polyme. Tạo ra các chuỗi và polyme khác nhau cho phép các công ty nhựa tạo ra các loại nhựa có các đặc tính khác nhau. Sự khác biệt khiến chúng được sử dụng trong các ứng dụng khác nhau.

Đối với ngành công nghiệp thực phẩm, một loại polyme đặc biệt có thể đóng gói các sản phẩm nóng. Đối với các công ty sản xuất chai lọ, chai nước ngọt và hộp đựng chất thải, họ sẽ cần polyethylene terephthalate.

Cần có polyethylene mật độ cao hơn cho các loại nhựa dày hơn được sử dụng cho chai thuốc, hộp đựng phim và bình sữa. Khi gói thực phẩm như thức ăn thừa, bạn thường sẽ lấy một bọc nhựa mỏng trong suốt, được làm từ polyvinyl clorua.

Phân loại theo hiệu ứng của polyme với nhiệt độ:

Nhựa nhiệt dẻo: Là loại nhựa mà khi nung nóng đến nhiệt độ chảy mềm thì nó chảy mềm ra. Và khi hạ nhiệt độ thì nó đóng rắn lại. Loại này thường được tổng hợp bằng phương pháp trùng hợp. Các mạch đại phân tử của nhựa nhiệt dẻo liên kết bằng các liên kết yếu (liên kết hydro, vanderwall). Tính chất cơ học không cao khi so sánh với nhựa nhiệt rắn.

Nhựa nhiệt dẻo có khả năng tái sinh được nhiều lần, ví dụ như: Polyetylen (PE), polypropylen (PP), polystyren (PS), poly metyl metacrylat (PMMA), poly butadien (PB), poly etylen tere phtalat (PET),...
Nhựa nhiệt rắn: Là một hợp chất cao phân tử có khả năng chuyển sang trạng thái không gian 3 chiều dưới tác dụng của nhiệt độ; Hoặc tác động của phản ứng hóa học.

Sau đó không nóng chảy hay hòa tan trở lại được nữa, không có khả năng tái sinh. Một số loại nhựa nhiệt rắn như: Ure focmadehyt [UF], nhựa epoxy, phenol formaldehyde (PF), nhựa melamin, poly este không no...
Vật liệu đàn hồi (elastome): Là loại nhựa có tính đàn hồi như cao su.

Phân loại theo ứng dụng:



Nhựa kỹ thuật: Là loại nhựa có chất cơ lý trội hơn so với các loại nhựa thông dụng. Thường dùng trong các mặt hàng công nghiệp, như: PC, PA,.....

Nhựa chuyên dụng: Là các loại nhựa tổng hợp chỉ sử dụng riêng biệt cho từng trường hợp.

4. ỨNG DỤNG của nhựa.

Nhựa là vật liệu cực kỳ linh hoạt và lý tưởng cho một loạt các ứng dụng trong đời sống và công nghiệp. Nhựa được sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực, bao gồm sản xuất bao bì, xây dựng và xây dựng, dệt may, sản phẩm tiêu dùng, giao thông vận tải, điện và điện tử và máy móc công nghiệp.

Hàng không vũ trụ

Việc vận chuyển người và hàng hóa an toàn và hiệu quả về mặt chi phí là rất quan trọng đối với nền kinh tế của chúng ta, việc cắt giảm trọng lượng của ô tô, máy bay, tàu thuyền và tàu hỏa có thể cắt giảm đáng kể mức tiêu thụ nhiên liệu. Do đó, độ nhẹ của nhựa khiến chúng trở nên vô giá đối với ngành vận tải.
Vật liệu xây dựng

Nhựa xây dựng được sử dụng ngày càng nhiều trong các ứng dụng trong ngành xây dựng. Chúng có tính linh hoạt cao và kết hợp tỷ lệ sức mạnh trên trọng lượng tuyệt vời, độ bền, hiệu quả chi phí, bảo trì thấp và chống ăn mòn làm cho nhựa trở thành một lựa chọn hấp dẫn về mặt kinh tế trong lĩnh vực xây dựng.

Sản phẩm tiêu biểu có thể kể đến đó chính là các tấm bạt che chắn công trình, lưới an toàn, lưới chắn bụi, ...

Các ứng dụng điện và điện tử

Điện năng cung cấp hầu hết mọi khía cạnh của cuộc sống của chúng ta, ở nhà và trong công việc, tại nơi làm việc và khi vui chơi. Và ở mọi nơi chúng ta tìm thấy điện, chúng ta cũng tìm thấy chất dẻo.
Bao bì nhựa

Nhựa là vật liệu hoàn hảo để sử dụng trong đóng gói hàng hóa. Nhựa rất linh hoạt, bền, nhẹ, linh hoạt và có độ bền cao.

Nó chiếm lượng nhựa sử dụng lớn nhất trên toàn thế giới và được sử dụng trong nhiều ứng dụng đóng gói bao gồm hộp đựng, chai lọ, thùng phuy, khay, hộp, cốc và bao bì bán hàng tự động, sản phẩm trẻ em và bao bì bảo vệ.

Sản xuất năng lượng

Tua bin gió, tấm pin mặt trời và bùng nổ sóng
Đồ nội thất

Bộ đồ giường, vải bọc và đồ nội thất gia đình, ống nước nhựa, ống nhựa PVC, ... Tiêu biểu có Ống nhựa Tiền Phong là 1 nhà cung cấp ống nhựa chất lượng cao cả trong và ngoài nước.
Ngành y tế

Ống tiêm y tế và chăm sóc sức khỏe , túi bood, tubins, máy lọc máu, van tim, chân tay giả và băng vết thương

Mũ bảo hiểm quân sự , áo giáp, xe tăng, tàu chiến, máy bay và thiết bị thông tin liên lạc, ...

Về nguyên tắc thì chúng ta có thể chế tạo nhựa theo ứng dụng mong muốn bằng việc kết hợp các đặc tính của nhựa. Do các đặc tính hấp dẫn này, nhựa ngày càng được sử dụng phổ biến trong nhiều ứng dụng như:

Nhựa Tiền Phong ghi nhận doanh thu đạt 4.819 tỷ đồng, tăng 7,4%, lợi nhuận sau thuế đạt 465,3 tỷ đồng, tăng 4% so với năm 2020.

Công ty Cổ phần Nhựa thiếu niên Tiền Phong (Mã chứng khoán: NTP) vừa công bố Báo cáo tài chính quý IV và 2021 với các chỉ tiêu kinh doanh khả quan.

Cụ thể, trong quý IV/2021, công ty này ghi nhận doanh thu thuần đạt hơn 1.460 tỷ đồng, tăng 26% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, giá vốn bán hàng tăng mạnh lên hơn 1.191 tỷ đồng, tương ứng 44,3% so với cùng kỳ năm trước nên lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ giảm 24% xuống còn 271 tỷ đồng.

Trong quý, chi phí tài chính tăng nhẹ lên gần 23 tỷ đồng, tương ứng 11%, chi phí quản lý doanh nghiệp đạt 39,3 tỷ đồng, tương ứng tăng hơn 30% so với quý IV/2020. Tuy nhiên, chi phí bán hàng giảm xuống còn 113 tỷ đồng, giảm 54,8% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung, lợi nhuận trước thuế của Nhựa Tiền Phong đạt 138 tỷ đồng, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế còn 117,6 tỷ đồng, tăng 12,5 tỷ đồng so với quý IV/2020.

Lũy kế cả năm 2021, Nhựa Tiền Phong ghi nhận doanh thu đạt 4.819 tỷ đồng, tăng 7,4% so với năm trước đó, lợi nhuận sau thuế đạt 465,3 tỷ đồng, tăng 4% so với năm 2020.

Năm vừa qua, Nhựa thiếu niên Tiền Phong có hơn 26 tỷ đồng lãi tiền gửi, tiền cho vay, trong khi năm 2020 chỉ có hơn 1,1 tỷ đồng. Ngoài ra, công ty này nhận 5,8 tỷ đồng cổ tức từ loạt công ty, gồm: Công ty Cổ phần Bao bì Tiền Phong, Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Hà Giang, Công ty Cổ phần cấp nước Thủ Dầu Một và Công ty TNHH MTV Kinh doanh nước sạch Sài Gòn. Trong đó, khoản lớn nhất từ CTCP Kinh doanh nước sạch Sài Gòn với hơn 3 tỷ đồng.

Tổng tài sản của Nhựa Tiền Phong tính đến hết năm 2021 đạt hơn 4.898 tỷ đồng, tăng gần 26% tương đương gần 1.000 tỷ đồng so với hồi đầu năm. Trong đó, tài sản ngắn hạn tăng 62%, lên 2.721 tỷ đồng với khoản lớn nhất là hơn 1.081 tỷ đồng hàng tồn kho, tăng hơn 400 tỷ đồng so với hồi đầu năm.

Hầu hết các hạng mục của hàng tồn kho đều tăng so với hồi đầu kỳ. Tương ứng, nợ vay công ty cũng tăng 68% so với thời điểm đầu năm lên mức hơn 2.192 tỷ đồng, trong đó, nợ vay ngắn hạn tăng hơn 75% lên 1.594 tỷ đồng và vay nợ dài hạn giảm 53% xuống còn 16,7 tỷ đồng.

Cuối tháng 10, Bộ Tài chính đã có văn bản gửi Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) đề nghị triển khai thoái vốn năm 2021 theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, trong đó tập trung triển khai thoái vốn tại Công ty Cổ phần Nhựa Thiếu niên Tiền Phong trước ngày 20/12/2021. Tuy nhiên, do vấn đề chậm trễ về định giá do dịch Covid-19, SCIC vẫn chưa thoái vốn khỏi Nhựa Tiền Phong.

Tại buổi họp báo hồi đầu năm, ông Đinh Việt Tùng - Phó Tổng Giám đốc SCIC cho biết công tác định giá Nhựa Tiền Phong đã xong và trong thời gian tới sẽ triển khai đấu giá.

Dù có sự phát triển mạnh trong những năm gần đây nhưng ngành Nhựa Việt Nam chủ yếu vẫn chỉ được biết đến như là một ngành kinh tế kỹ thuật về gia công chất dẻo, trong khi đó lại không chủ động được hoàn toàn nguồn nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất.

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, ngành công nghiệp Nhựa dù còn non trẻ so với các ngành công nghiệp lâu đời khác như cơ khí, điện - điện tử, hoá chất, dệt may… nhưng đã có sự phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Ngành Nhựa giai đoạn 2010 – 2020, là một trong những ngành công nghiệp có tăng trưởng cao nhất Việt Nam với mức tăng hàng năm từ 16% – 18% (chỉ sau ngành viễn thông và dệt may), có những mặt hàng tốc độ tăng trưởng đạt gần 100%/năm.

Với tốc độ phát triển nhanh, ngành Nhựa đang được coi là một ngành năng động trong nền kinh tế Việt Nam. Sự tăng trưởng đó xuất phát từ thị trường rộng, tiềm năng lớn và đặc biệt là vì ngành nhựa Việt Nam mới chỉ ở bước đầu của sự phát triển so với thế giới và sản phẩm nhựa được sử dụng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống bao gồm sản phẩm bao bì nhựa.

Sản phẩm nhựa vật liệu xây dựng, sản phẩm nhựa gia dụng và sản phẩm nhựa kỹ thuật cao.

Hiện nay, các sản phẩm nhựa của Việt Nam đang có mặt tại gần 160 nước. Thị trường xuất khẩu truyền thống của các công ty nhựa Việt Nam là Nhật Bản, Mỹ, một số nước thuộc khu vực Châu Âu (Đức, Hà Lan…) và ASEAN (Campuchia, Indonesia, Philippine…). Gần đây, Hàn Quốc đã trở thành một thị trường xuất khẩu lớn mới của các nhà xuất khẩu nhựa Việt Nam.

Thói quen ưa chuộng sử dụng sản phẩm nhựa trong cuộc sống thường ngày của người Việt, đặc biệt là các loại bao bì nhựa, nên, nhu cầu sử dụng nhựa của Việt Nam tương đối cao.

Tại sao là chúng tôi?

Nhựa Nhựa